
Khi ai đó hỏi tôi “anh có biết rõ điều anh đang phải làm, đang dấn thân hay không?” Tôi sẽ không ngần ngại lên tiếng “Tôi biết rõ mình đang phải làm gì”. Đây không phải là điều phát xuất từ một quyết định đã chín muồi nhưng là từ một tiếng gọi dội lên giữa hoang mang. Một giọng vang trong tâm trí như thể chính tôi đang lên tiếng cho tôi. Sự rõ ràng ấy không đến từ lý luận mà từ một sự “minh nhiên” sâu xa của con tim. Và, đó cũng là điểm khởi đầu cho hành trình làm người tu sĩ.
Triết học hiện sinh định nghĩa con người không được định sẵn bởi bản chất mà được định hình trong chính quá trình sống; trong những chọn lựa tự do, đầy trách nhiệm. J.P Sartre gọi đó là “án phạt của tự do” hay Kierkegaard gọi đó là “cái nhảy vào vực thẳm của đức tin”. Chính trong chọn lựa sống đời tu mà tôi cảm nghiệm sự “ném vào đời” một cách đặc biệt. Không ai buộc tôi phải như thế cả nhưng tôi chọn và một khi tôi đã chọn thì mọi sự đều đổi khác. Tu trì bấy giờ trong tôi không còn đơn thuần là chọn một nếp sống nhưng là chọn một cách hiện hữu, cách hiện hữu với Đấng Tuyệt Đối.
Tôi từng vật lộn với câu hỏi: “Tôi là ai?” giữa những đêm thức trắng, giữa nhiều lúc lắng trầm của cuộc nội tâm, tôi cố nghe nhưng tôi không nghe được gì ngoài sự im lặng dày đặc. Nhưng chính trong im lặng ấy tôi cảm nhận có một sự hiện diện âm thầm không ép buộc, không thúc ép, chỉ có mời gọi. Heidegger nói tôi như là “hữu thể bị quẳng vào đời” luôn sống trong cái hướng tới cái chết nhưng cũng chính vì thế mà tôi có thể sống một cách xác tín. Sự hiện hữu đích thực là không né tránh lo âu, đúng vậy! Nhưng mà phải can đảm bước qua nó. Đời tu hay đời nào thì cũng không miễn trừ cho ta khỏi những khủng hoảng hiện sinh nhưng trái lại, đó là nơi khủng hoảng được hóa giải trong một tình yêu lớn hơn cả bản ngã.
Thế giới đang đặt con người tôi và anh vào trung tâm của kinh nghiệm sống, nhưng nó không phải là cái cớ để tôi và anh tôn thờ cái tôi của mình đâu mà để mình tôi đối diện với sự bất toàn sâu xa của mong manh phận. Đời sống tu trì giúp tôi khám phá ra rằng sự tự do không phải để nắm giữ mà để phó thác và sự hiện hữu không phải để khẳng định chính mình mà để mở ra cho một Đấng Khác. Đó là lúc sự hiện sinh giao thoa với niềm tin. Khi tôi nói “xin vâng” thì tôi không đánh mất tự do mà tôi hiến dâng nó. Khi tôi sống đời độc thân, khó nghèo và vâng phục thì tôi không làm nghèo sự hiện hữu của mình mà đặt hiện hữu tôi vào quỹ đạo của một tình yêu lớn hơn.
Và, đời tu không phải là chốn yên bình như ai đó nghĩ. Có những lần tôi lạc đường muốn quay đầu ngoảnh lại và thậm chí lắm khi nghi ngờ cả tiếng gọi thuở ban đầu. Nhưng trong những lúc ấy tôi thấy mình đang bị dày vò bởi những lựa chọn, bởi tự do, bởi muôn vàn thách đố thời cuộc. Chỉ khác là cái hiện tại, cái tôi có được ấy là tôi không còn cô độc bởi Thập giá vẫn luôn đó và Chúa vẫn có đó. Và, tôi nhận ra rằng có những sự thật không thể được chứng minh bằng luận lý mà bằng việc phải tiếp tục bước đi. Và vì thế, tôi vẫn đi dù chẳng rõ đích đến, tôi đi vì tôi tin Đấng đi cùng tôi đã biết đường.
Nếu cuộc sống là hiện hữu có ý thức và có trách nhiệm thì đời tu là một cuộc dâng hiến có ý thức về mầu nhiệm tình yêu và có trách nhiệm với ơn gọi làm nhân chứng cho tình yêu ấy. Con đường tôi đi không dễ dàng nhưng, rõ rồi anh – tôi vẫn đi, vẫn đi không phải vì tôi đủ mạnh mà vì tôi đã được yêu… Và, đó là lý do sâu xa nhất cho mọi hiện hữu.



