
Ai trong chúng ta mà chẳng có lúc muốn quay về với tuổi thơ, với ký ức, với chính mình của những ngày chưa vụn vỡ. Nhưng càng muốn trở về, ta càng nhận ra đó không phải là một con đường dễ đi. Bởi ở đó, ta phải đối diện với tất cả những gì từng làm mình đau, với những mảng ký ức ta tưởng đã được khâu kín, vậy mà chỉ một cái chạm rất khẽ cũng khiến tim ta nhói lên. Có lẽ, ai trong chúng ta cũng từng như thế…
Tôi đã đi qua những gương mặt rách nát của đời sống khi chạm ánh mắt nơi người ăn xin co ro bên vệ đường, đôi mắt đục mờ phủ sương; một người cha gánh từng bao ve chai, bước nặng giữa cái nắng đổ lửa; hay đơn giản chỉ là tiếng ho khan của ai đó phía sau tấm tường mỏng. Tất cả gom góp lại trong tôi thành một điều giản dị: thế giới này đầy vết thương, chẳng còn ai thật sự nguyên vẹn. Tôi cũng vậy… Dưới lớp áo tu sĩ, tôi vẫn luôn có những nỗi sợ, những thiếu sót, những mảnh vụn chưa được hàn gắn. Tôi từng muốn giấu chúng đi vì tưởng rằng để sống thánh thiện như Chúa gọi mời là phải không có rạn nứt. Nhưng rồi rốt hết tôi hiểu ra rằng, Chúa không đòi tôi phải vẹn nguyên mà muốn tôi trung thực, trung thực ngang qua những thương tổn.
Khi tôi ngước nhìn lên Thập Giá, tôi thấy nơi đó không chỉ là biểu tượng của đau khổ, mà còn là con đường trở về của tình yêu. Một Thiên Chúa chịu treo giữa những vết thương, không oán hận, không chống trả, chỉ im lặng yêu và yêu cho đến cùng. Tôi tự hỏi liệu có cách nào khác để yêu mà không bị như Ngài được không? Có lẽ không. Bởi yêu mà không bị thương thì chưa hẳn là yêu; yêu mà không đau thì chỉ là một sự tính toán được che đậy khéo léo. Vết thương, vì thế, không còn là dấu chấm hết mà là khởi đầu của một mầm sống, một sự sống mới. Những vết thương nó không biến mất chỉ vì ta làm ngơ chúng, nhưng chúng ở lại để nhắc ta rằng ở nơi đó tình yêu đã từng hiện diện. Quả thực, nơi nào có tình yêu, nơi đó có vết thương. Đức Kitô cũng đã yêu như thế, yêu đến mức thương tích vẫn còn hằn in trên thân thể Phục Sinh. Ngài không xóa chúng đi, vì đó là dấu chứng của một tình yêu đã được sống đến cùng vì nhân loại. Để mỗi lần nhìn vào những vết thương ấy, tôi hiểu rằng ơn cứu độ không đến từ việc trốn chạy những đau khổ, mà từ việc chạm vào khổ đau bằng chính tình yêu.
Tôi thiết nghĩ, có lẽ con đường nên thánh không cứ phải là được lát trải bằng những chiến thắng, mà bằng những vết thương biết hát. Mỗi vết thương là một nốt nhạc, và khi đủ lắng nghe, ta sẽ nghe thấy cả một bản giao hưởng của lòng thương xót đang ngân lên trong trái tim mình. Đó là thanh âm của những người vẫn đang sống, vẫn đang yêu, dù bị thương tổn và dù chẳng mấy hoàn hảo.
Thế giới hôm nay dường như chẳng ai dám ở lại để chịu đau cũng chẳng ai đủ kiên nhẫn để nán lại trong thương tổn. Người ta chạy trốn bằng cách này cách khác, bằng tiếng cười, công việc, thành công,…, bằng cả những lời cầu nguyện không có nước mắt và không trở về với lòng mình. Chính trong cái vội vã ấy, con người đã để linh hồn dần trở nên chai cứng, nguội lạnh. Với tôi, tôi không muốn trở thành một người tu sĩ sống nhiều kinh nguyện mà không còn biết khóc, nghĩa là chẳng còn cảm thức về khổ đau. Tôi chỉ muốn giữ lại trong mình một trái tim còn nóng, nơi những vết thương có thể chạm vào mà không bị từ khước. Vì chính khi để trái tim tan ra, tôi mới hiểu thế nào là lòng thương xót. Tôi ước mình có thể bước đi mà không sợ hãi trước những vết thương của người khác và của chính tôi. Bởi chính trong đó, tôi được nhắc nhớ rằng Thiên Chúa vẫn còn đang ở lại với con người. Và mỗi lần dám cúi xuống, chạm vào một vết thương, tôi lại nghe thấy một lời mời gọi nhỏ“Hãy trở về.”
Trở về giữa những vết thương không để khổ đau thêm dài, mà để yêu sâu và đậm hơn. Để hiểu rằng hạnh phúc không nằm trong sự nguyên vẹn, mà trong việc dám để tình yêu chảy qua những chỗ đã từng rách nát rối bời. Trở về giữa những vết thương không phải để ôm lấy khổ đau cho riêng mình, mà để thấy mọi người đều đang khát một sự dịu dàng như khi tôi gặp một cụ bà nơi cuối nguyện đường, tay run run lần chuỗi, miệng lẩm bẩm những câu kinh đứt quãng. Tôi đứng đó, chẳng nói gì, chỉ lặng im nhìn. Và trong ánh nhìn ấy, tôi cảm được một thứ bình an đến lạ, như thể Chúa đang ở giữa hai người ngay chính trong cái im lặng mỏng manh đó.
Có lẽ Thiên Chúa luôn đến bằng một sự hiện diện dịu dàng đến mức không ai nhận ra như thế!
Tiểu đệ Jos. Văn Thi, CSJB





